Journal of Science and Technology -NTTU
Duyệt
Duyệt Journal of Science and Technology -NTTU theo Năm xuất bản
Đang hiển thị 1 - 20 của tổng số 533 kết quả
Số kết quả/trang
Tùy chọn sắp xếp
- Tài liệuKhảo sát tác dụng an thần của bài thuốc Bá tử dưỡng tâm hoàn không có thạch xương bồ trên thực nghiệm(Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Nguyễn, Phương Dung; Lê, Thị Thu HươngTình hình chung và mục tiêu nghiên cứu: Theo thống kê của bác sĩ Nguyễn Xuân Huyên, số bệnh nhân đến khám vì mất ngủ chiếm 10-20% ở phòng khám chuyên khoa thần kinh. Theo nghiên cứu của Qi Fengqi và cộng sự trên thực nghiệm cho thấy Bá tử dưỡng tâm hoàn có tác dụng an thần. Trong bài Bá tử dưỡng tâm hoàn, vị thuốc Thạch xương bồ có tác dụng cải thiện các triệu chứng phụ của mất ngủ. Tuy nhiên, độc tính của tinh dầu Thạch xương bồ tăng theo hàm lượng β-asaron chứa trong đó. Mục đích nghiên cứu là khảo sát tác dụng an thần của cao chiết từ bài thuốc Bá tử dưỡng tâm hoàn không có Thạch xương bồ trên thực nghiệm. Phương pháp nghiên cứu: Độc tính cấp đường uống theo phương pháp Kaber-Behren. Khảo sát thời gian ngủ của chuột trên mô hình an thần kéo dài thời gian ngủ với Pentobarbital. Đánh giá thời gian ra ngăn sáng của chuột trên mô hình hai ngăn sáng - tối. Kết quả: Nghiên cứu độc tính cấp cho thấy liều uống 27,48g cao/kg thể trọng là liều tối đa không gây chết chuột thử nghiệm. Cao thuốc liều 1,14g/kg chuột, liều 2,29g/kg chuột và 4,57g/kg chuột tại thời điểm 60 phút làm tăng thời gian ngủ không có ý nghĩa thống kê so với lô chứng (lô uống nước cất). Cao thuốc liều 2,29g/kg chuột và liều 4,57g/kg chuột, tại thời điểm 60 phút, thời gian ra ngăn sáng tăng có ý nghĩa thống kê so với lô chứng.
- Tài liệuPhân tích năng lực cạnh tranh nội tại của Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình – Chi nhánh Tp.HCM(Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Nguyễn, Thị Như QuỳnhĐể phân tích năng lực cạnh tranh nội tại của công ty cổ phần dược phẩm Quảng Bình – chi nhánhTp.HCM, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả và nghiên cứu hồi cứu để phân tích năng lực cạnh tranh về tài chính, nhân sự và năng lực cạnh tranh về sản phẩm của chi nhánh Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình tại Tp.HCM giai đoạn 2012 – 2016. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng thanh toán còn thấp (hệ số thanh toán hiện hành chỉ dao động trong khoảng 1,011,08), doanh nghiệp vẫn còn phụ thuộc nhiều vào hàng tồn kho (chiếm từ 25,50-37,37% trong tổng tài sản lưu động), vốn bằng tiền trong cơ cấu tài sản lưu động ở mức thấp (3,06-23,47%) Vòng quay hàng tồn kho, vòng quay khoản phải thu cao, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu giữ ổn định trong 5 năm qua (1%). Chủng loại sản phẩm phong phú (156 mặt hàng), chất lượng đảm bảo, giá sản phẩm thường thấp hơn sản phẩm tương đương của một số công ty khác đang phân phối trên địa bàn Tp.HCM do được sự hỗ trợ về giá của Tổng Công ty. Tuy nhiên, thị phần sản phẩm còn thấp. Hệ thống phân phối khá đa dạng. Khả năng cạnh tranh về nhân sự còn hạn chế (Dược sỹ trung học chiếm 70,5%).
- Tài liệuXây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật chế phẩm chứa hoạt chất nanocurcumin dạng liposom(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Nguyễn, Tường VânNghiên cứu tập trung xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cho viên nang mềm chứa hoạt chất nanocurcumin dạng liposom. Viên nang mềm chứa nanocurcumin liposom có công thức là: curcumin toàn phần 15,0 mg và các tá dược sáp ong trắng, dầu cọ, lecithin, dầu đậu nành. Bước đầu tiên là tiến hành phân lập curcumin II, III từ bột nghệ bằng phương pháp sắc ký cột. Pha động là CHCl3-MeOH có độ phân cực tăng dần. Xác định các đặc tính của curcumin II, III như màu sắc, độ tan, độ tinh khiết (sắc ký lớp mỏng, quét nhiệt vi sai, sắc ký lỏng) và cấu trúc chất thu được (phổ hồng ngoại, phổ khối, phổ cộng hưởng từ hạt nhân). Sau đó sử dụng curcumin phân lập được và chuẩn curcumin I (Chromadex, USA) để thẩm định quy trình định lượng đồng thời curcumin I, curcumin II và curcumin III. Xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cho viên nang mềm chứa nanocurcumin gồm có các chí tiêu hình thức, độ đồng đều khối lượng, độ hòa tan, kích thước hạt, định tính, định lượng.
- Tài liệuĐánh giá tổng hợp về sự phù hợp và thích nghi của các dự án chuyển đổi đất rừng khộp sang trồng cao su trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk(Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Trịnh, Công Tư; Phùng, Chí SỹKết quả điều tra, khảo sát, đánh giá cho thấy điều kiện khí hậu rừng khộp tương đối phù hợp với yêu cầu sinh trưởng phát triển của cây cao su. Tuy nhiên, vẫn có một số chỉ tiêu khá khắc nghiệt như: lượng mưa phân bố tập trung theo mùa, gây ẩm thấp, ngập úng trong mùa mưa và khô hạn trong mùa khô; Nhiệt độ tối cao và tối thấp đều chạm ngưỡng giới hạn đối với yêu cầu của cây cao su. Phần lớn diện tích rừng khộp có thành phần cơ giới tầng mặt là cát hoặc cát pha, kết cấu đất rời rạc, nghèo mùn, khả năng giữ nước và dinh dưỡng kém, hấp thu nhiệt và tỏa nhiệt nhanh, ở độ sâu cách mặt đất khoảng 20 - 40cm là tầng kết von và sỏi đá, bên dưới có tích sét, dễ gây úng cục bộ trong mùa mưa. Tỉ lệ diện tích đất rừng khộp thích hợp cây cao su khá thấp, trong đó chủ yếu là mức thích nghi S2 và S3, không có diện tích thích nghi ở mức S1. Trong 2 năm đầu sinh trưởng của cây cao su trên đất rừng khộp có xu hướng kém hơn cao su trên đất nương rẫy, đất khai phá từ rừng thường xanh, bán thường xanh… Từ năm thứ 3 trở đi, sự khác biệt biểu hiện càng rõ hơn. Theo đó, đường vanh cây cao su trên đất rừng khộp thấp hơn so với đất trồng cao su truyền thống ở cùng độ tuổi.
- Tài liệuỨng dụng lưu chất CO2 siêu tới hạn trong nghiên cứu và sản xuất(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Đoàn, Thị Ngân; Lê, Trần Thảo Nguyên; Hoàng, Hồng Hạnh; Bùi, Minh Quang; Nguyễn, Lê Tuyên; Lê, Văn MinhBài viết giới thiệu tổng quan những nghiên cứu gần đây và khả năng ứng dụng sản xuất trong nước nhằm nâng cao giá trị các sản phẩm truyền thống, đồng thời đáp ứng các yêu cầu đa dạng của thị trường hiện nay.
- Tài liệuKhảo sát hoạt tính sinh học của chất biến dưỡng từ hệ endophyte cây thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana Zucc., Taxaceae)(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Lê, Quang Hạnh Thư; Nguyễn, Đinh Nga; Võ, Thị Bạch HuệNghiên cứu nhằm mục đích phân lập, định danh và khảo sát hoạt tính sinh học của hệ endophyte từ các bộ phận của cây Thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana Zucc., Taxaceae) thu hoạch từ tỉnh Lâm Đồng. Pestalotiopsis là hệ endophyte trội được ly trích từ cây Thông đỏ lá dài cho hoạt tính kháng nấm Candida và tác động chống oxy hóa tốt. Bên cạnh đó, các chi nấm gồm Fusarium, Acremonium, Nigrospora và Aspergillus cũng thể hiện hoạt tính sinh học tốt.
- Tài liệuXây dựng mô hình docking của các chất ức chế bơm ngược ABCC2/MRP2 / Phan Thiện Vy(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Phan, Thiện VyĐề tài đã xây dựng được mô hình homology của bơm ABCC2 bằng server I-TASSER với chất lượng tốt và độ tin cậy khá cao. Mô hình này tạo cơ sở cho việc docking các chất ức chế vào khoang trung tâm nhằm tìm ra các aicd amin và các liên kết quan trọng tại khoang gắn kết.
- Tài liệuNghiên cứu qui trình sản xuất bột dinh dưỡng từ đậu nành nảy mầm(Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Lê, Thị Thêm; Trần, Đình MạnhĐậu nành nảy mầm chứa nhiều thành phần dinh dưỡng quan trọng, cần thiết cho con người. Việc sản xuất ra bột dinh dưỡng đã nâng cao giá trị cho sản phẩm. Qui trình sản xuất ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng bột dinh dưỡng từ đậu nành nảy mầm. Để đậu nành nảy mầm có chất lượng tốt nhất, đặc biệt là thu được hàm lượng vitamin E cao, thì hạt đậu nành phải được ngâm trong thời gian 8 giờ ở 30ºC, rồi ủ trong thời gian 96 giờ. Sau đó hạt đậu nành nảy mầm được sấy ở 50ºC trong thời gian 8 giờ để giảm độ ẩm của hạt xuống còn 9,67%, đồng thời vẫn giữ được chất lượng tốt nhất của đậu nành nảy mầm, đặc biệt là hàm lượng vitamin E (14,43mg/kg). Sản phẩm được đem đi nghiền nhiều lần thu được bột dinh dưỡng từ đậu nành nảy mầm có chất lượng tốt.
- Tài liệuXây dựng phương pháp phân tích định lượng hàm lượng cefuroxime trong bột pha hỗn dịch zinat 125mg bằng phương pháp HPLC(Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Huỳnh, TânBài báo trình bày quá trình xây dựng và thẩm định phương pháp HPLC với đầu dò PDA định lượng cefuroxime trong bột pha hỗn dịch zinat 125mg. Phương pháp HPLC với đầu dò PDA, cột C18 pha đảo, pha động gồm methanol – dung dịch amoni dihydrogen phosphat 0,2M theo tỉ lệ (38:62; v:v) tốc dộ dòng 1ml/phút, bước sóng phát hiện 278nm. Khảo sát tính tương thích của hệ thống sắc ký cho thấy hệ số phân giải giữa Cefuroxim axetil diasteroisomer B và Cefuroxim axetil diasteroisomer A trong dung dịch chuẩn ≥1,5 (3,734). Hệ số phân giải giữa Cefuroxim axetil diasteroisomer B và Cefuroxim axetil delta – 3 isomer≥1,5 (2,530). Số đĩa lý thuyết đối với Cefuroxim axetil diasteroisomer A>3000 (9532,2), %RSD các lần tiêm lặp lại không quá 2,0%. Cefuroxim axetil diasteroisomer B: 0,95. Cefuroxim axetil diasteroisomer A: 1,05. Tính đặc hiệu: Độ lệch thời gian lưu của mẫu chuẩn và mẫu thử: 0,066%. Độ lặp lại: hàm lượng mẫu trong khoảng 90% ÷ 115%, với %RSD = 0,11<2%. Độ đúng của phương pháp trong khoảng 98,97% ÷ 100,51% . Theo tiêu chuẩn của USP34 thì độ ổn định của thuốc bột cefuroxime, tính tương thích của hệ thống sắc ký, tính tuyến tính, tính đặc hiệu, độ lặp lại, độ dung đạt yêu cầu phân tích.
- Tài liệuTình hình ứng dụng CRISPR/Cas trong cải thiện di truyền cây nông nghiệp(Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Lê, Thị Ngọc Quỳnh; Chu, Đức Hà; Lê, Tiến DũngBiến nạp gen trên thực vật đã trở thành một công cụ nghiên cứu chức năng gen hữu hiệu trong thời gian gần đây. Không những thế, kỹ thuật này còn là chìa khóa trong việc phát triển các thế hệ cây trồng biến đổi gen đang được sử dụng rộng rãi trong canh tác. Trong vài năm trở lại đây, sự phát triển của công nghệ chỉnh sửa hệ gen (genome editing) đã mở ra một cách tiếp cận mới trong cải thiện di truyền cây nông nghiệp. Trong công nghệ chỉnh sửa hệ gen, hệ thống CRISPR/Cas (Clustered regularly interspaced short palindromic repeat; CAS, CRISPR associated protein) hứa hẹn có tiềm năng ứng dụng lớn nhất. Hệ thống này bao gồm một protein thuộc họ Cas, phổ biến nhất là Cas9. Cas9 sử dụng các RNA dẫn đường để tìm và cắt đặc hiệu sợi đôi DNA. Sự xuất hiện các đứt gãy trên mạch đôi DNA sẽ kích hoạt cơ chế tự sửa chữa DNA của tế bào. Năm 2013, CRISPR/Cas đã có ứng dụng đầu tiên trên đối tượng thực vật. Sau đó, CRISPR/Cas đã được ứng dụng thành công vào một số cây mô hình (Nicotiana benthamiana, Arabidopsis thaliana), các cây lương thực quan trọng (đậu tương, lúa gạo, lúa mì, ngô) và hàng loạt đối tượng cây nông nghiệp khác đang được tiến hành nghiên cứu. Trong bài viết này, chúng tôi tóm tắt cơ chế hoạt động của hệ thống CRISPR/Cas và các thành tựu hiện nay cũng như tiềm năng ứng dụng trong cải thiện di truyền cây nông nghiệp quan trọng.
- Tài liệuỨng dụng vật liệu khung hữu cơ lưỡng kim loại Ni/Fe-MOF làm xúc tác cho phản ứng tổng hợp pyridyl benzamides từ 2-aminopyridine và trans-beta-nitrostyrene(Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Nguyễn, Thi Kim Oanh; Nguyễn, Duy TrinhVật liệu khung hữu cơ lưỡng kim loại (Ni/Fe-MOF) được tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt. Với đặc tính những đặc tính độc đáo như diện tích bề mặt riêng lớn, có cấu trúc tinh thể khung cấu trúc linh động và có thể thay đổi kích thước. Do đó, vật liệu MOFs được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: xúc tác, hấp phụ và lưu trữ khí, y học. Trong nội dung này vật liệu MOFs (Ni/Fe-MOF) được sử dụng làm xúc tác trong phản ứng tổng hợp pyridyl benzamides từ 2-aminopyridine và trans-beta-nitrostyrene với hiệu suất 82%.
- Tài liệuAn effective protocol for isolation and culture of mesenchymal stem cells from mouse bone marrow(Nguyen Tat Thanh University, 2018) Nguyen, Thi Phuong; Nguyen, Huu HungBone marrow is known as the main source of isolated mesenchymal stem cells. This study has demonstrated a protocol for isolation and culture of mesenchymal stem cells from mouse bone marrow (mBM) with minimal requirement. The cells were harvested from the tibias and femurs, and then cultured in Dulbecco’s modified Eagle’s medium supplemented with fetal bovine serum. The mBM-MSCs were isolated by media changing every 8 hours in 24 hours of culture and sub-culture. Target cells subsequently were regconized by adipogenic differentiaton posibility. The study also focused on descript a simple procedure to culture BM-MSCs and the results obtained following the procedure.
- Tài liệuKhảo sát thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của cao chiết Dây gắm (Gnetum montanum Markgr.)(Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Ông, Bỉnh Nguyên; Nguyễn, Đặng Kim Quyên; Lý, Hải Triều; Bùi,Thị Phương Quỳnh; Lê, Văn MinhNghiên cứu thành phần hoá học và tác dụng sinh học của dược liệu là một trong những hướng đang được quan tâm. Mục tiêu: Phân tích thành phần hoá học và khảo sát một số hoạt tính sinh học của các cao chiết từ Dây gắm (Gnetum montanum Markgr.).
- Tài liệuÔ nhiễm của gene kháng thuốc (ARGs) trong bùn bể tự hoại ở Việt Nam(Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Nguyễn, Trà Mi; Hồ, Tá Giáp; Nguyễn, Xuân Bình; Nguyễn, Hồ Các DungNghiên cứu này nhằm mục tiêu khảo sát sự tồn tại của 12 ARGs kháng lại 9 loại kháng sinh trong bùn bể tự hoại tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trong nghiên cứu này, chúng tôi thu thập 26 mẫu bùn phân ở Hà Nội và 24 mẫu ở thành phố Hồ Chí Minh. Sự hiện diện của các ARG đã được kiểm tra theo hai hướng: (1) tách chiết DNA trực tiếp từ các mẫu bùn, sau đó tiến hành PCR khảo sát sự hiện diện của ARGs; (2) phân lập E. coli từ mẫu bùn, tách chiết DNA E. coli để khảo sát sự hiện diện của ARGs. Kết quả xác định gene kháng thuốc trên E. coli tại Hà Nội và Tp.HCM tương ứng là 0 và 44% kháng Streptomycin; 50% và 40% kháng Sulfonamide; 0 và 4% kháng Erythromycin; 0 và 65% kháng Chloramphenicol; 100% và 98% kháng Tetracycline; 50% và 16% kháng Trimethoprim; 100% và 30% kháng β-Lactams; 0 và 0 kháng Gentamycin; không có gene kháng Quinolone.
- Tài liệuXây dựng mô hình học cụ hệ thống khử sắt trong xử lý nước cấp bằng vật liệu hấp phụ filox(Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Đỗ, Thị ThaoHiện nay, mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường được đặt lên hàng đầu. Việc gắn kết giữa lý thuyết và thực hành rất quan trọng. Với sinh viên ngành Môi trường, các mô hình học cụ cụ thể không những giúp sinh viên hiểu rõ nguyên tắc, cơ chế của quá trình xử lý, mà thông qua nó sinh viên có thể thực hành, thao tác quá trình xử lý, đánh giá hiệu quả xử lý từng chỉ tiêu ô nhiễm của một nguồn nước ô nhiễm cụ thể. Qua đó, sinh viên có thể đề xuất, cải tiến các phương pháp truyền thống nhằm đưa đến các phương pháp xử lý mới, hiệu quả hơn. Đề tài đã xây dựng thành công mô hình khử phèn trong nước cấp bằng phương pháp làm thoáng kết hợp với lớp vật liệu hấp phụ đã đạt được hiệu quả xử lý cao, hiệu suất lên đến 93,4%. Nồng độ sắt trước xử lý khá cao là 3,8731mg/l, sau quá trình xử lý còn 0,1895mg/l < 0,3mg/l theo QCVN 01:2009/BYT – Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ăn uống, nhỏ hơn 0,5mg/l so với QCVN 02:2009/BYT – Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt.
- Tài liệuKhảo sát ảnh hưởng của một vài chất điều hòa tăng trưởng thực vật trong nuôi cấy in vitro cây viễn chí lá nhỏ (polygala paniculata L.)(Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Lê, Thu Thủy; Bùi, Trang Việt; Trần, Thanh HươngViễn chí lá nhỏ thường được sử dụng trong y học cổ truyền để trị sổ mũi, đầy hơi, hoặc dùng rễ ngâm cồn để xoa bóp chữa tê thấp nhức mỏi. Ngoài ra, trong cây còn có rất nhiều hợp chất như saponin, xanthone, coumarin, flavonoid, methyl salicylate có tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh, kháng viêm, chống oxy hóa, an thần. Chất điều hòa tăng trưởng thực vật auxin (NAA hoặc IBA) và cytokinin BA ở các nồng độ được sử dụng trong nuôi cấy in vitro cây Viễn chí lá nhỏ nhằm khảo sát sự hình thành chồi và rễ bất định của cây. BA 0,5mg/l được bổ sung vào môi trường nuôi cấy cho số lượng chồi trên mẫu cấy cao nhất. NAA 0,25mg/l được bổ sung vào môi trường nuôi cấy cho số lượng rễ trên mẫu cấy cao nhất.
- Tài liệuĐặc điểm sinh học của nấm thán thư Colletotrichum hại cây ớt tại Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh(Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Trần, Dũng Minh; Nguyễn, Thị NhãCây ớt cay (Capsium annuum L.) bị bệnh thán thư gây hại đáng kể, bệnh do một số loài nấm Colletotrichum gây ra. Tại huyện Củ Chi, bệnh gây hại trên quả trong giai đoạn trước khi thu hoạch ở vụ mưa, triệu chứng điển hình là các vết bệnh tối màu, trũng lõm và có khối bào tử dạng vòng tròn đồng tâm màu nâu đậm. Hai loài Colletotrichum đã được xác định dựa trên đặc điểm nuôi cấy và hình thái. Các Isolate đã được phân lập từ mẫu quả bệnh trên môi trường PGA (potato glucose agar) ở 25-300C trong 5-7 ngày, sau đó xác định đặc điểm nuôi cấy bằng kính hiển vi và mắt thường. Các mẫu cấy phát triển hình thành các vòng tròn bào tử màu đen từ trung tâm tản nấm. Trên môi trường PGA, tản nấm có màu trắng hoặc hồng nhạt, sau đó chuyển dần sang xám nhạt hoặc xám xanh. Bào tử đơn bào, không màu và hình trụ với đầu nhụt hoặc thuôn, các đặc điểm này thuộc về 2 loài C. capsici và C. gloeosporioides. 2 loài này phát triển mạnh ở nhiệt độ tối ưu 25-300C và phát triển kém ở 200C hoặc 350C.
- Tài liệuCytotoxic activity of Combretum quadrangulare leaf extracts on HepG2 cancer cell line(Nguyen Tat Thanh University, 2018) Thi-Phuong Nguyen; Thuc-Huy Duong; Huu-Hung NguyenStudies on anticancer using plant extracts/compounds are promising. However, information regarding in vitro cytotoxicity is incompleted. Herein, this study aims to evaluate the cytotoxicity potentials of hexan:ethyl acetate (50:50, v:v) and ethanol extracts of Combretum quadrangulare leaves on HepG2 cancer cell line. Using cell viablity MTT assay, hexan: ethyl acetate and ethanol extracts were defined as potential cytotoxicity with IC50 at 38 and 47 µg/mL respectively. In addition, by microscopy observation, we found that morphology of the cells apparently change in a dose and time dependent manner. The data showed in this study shed new light for further investigation of the anticancer effect of C. quadrangulare extracts and its compounds.
- Tài liệuY dược học chứng cứ trong thực hành y học(Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Dương, DiệuY học chứng cứ ra đời từ giữa thế kỷ 20 và đang phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 21. Y học chứng cứ là một cách tiếp cận để thực hành y tế, nhằm mục đích tối ưu hóa việc ra quyết định, bằng cách nhấn mạnh việc sử dụng các bằng chứng từ các nghiên cứu được tiến hành tốt với thiết kế tốt. Mặc dù tất cả các loại thuốc dựa trên khoa học đều có một mức độ hỗ trợ thực nghiệm, Y học chứng cứ còn có thể đưa ra các khuyến cáo mạnh mẽ hơn, phân loại chứng cứ bằng sức mạnh nhận thức luận của nó và yêu cầu chỉ những loại mạnh nhất (từ các phân tích meta, tổng quan hệ thống, và các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên) các loại yếu hơn (chẳng hạn như từ các nghiên cứu đối chứng) có thể chỉ mang lại các khuyến cáo yếu. Chuyên đề này sẽ điểm qua: Các loại hình nghiên cứu khoa học, nghiên cứu y học và y dược học chứng cứ cùng các bước thử nghiệm lâm sàng.
- Tài liệuKhảo sát tác động chống oxy hóa in vitro của lá cây lá dong (Phrynium parviflorum Roxb, Marantaceae)(Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, 2018) Hoàng, Thị Phương LiênĐề tài tiến hành nhằm khảo sát sự ảnh hưởng của dung môi chiết (nước, cồn 50%, 70%, 96%) lên hoạt tính chống oxy hóa in vitro của lá cây Lá dong thông qua khả năng đánh bắt gốc tự do DPPH. Kết quả cho thấy dịch chiết nước của lá cây Lá dong cho hoạt tính chống oxy hóa nhất với giá trị IC50 thấp nhất (419,61µg/ml) so với các dịch chiết từ dung môi khác, IC50 của chất đối chứng là acid ascorbic là 7,34 µg/ml. Như vậy, dịch chiết nước của lá cây Lá dong có tiềm năng sử dụng làm chất chống oxy hóa tự nhiên.